Bạn đang ở: Trang Chủ CÂU LẠC BỘ CLB Sáng tác Trẻ Chuyện kể Cây Dầu Đôi

Chuyện kể Cây Dầu Đôi

PDF.InEmail

Ngày nay, ai ở xa đến Bình Dương, nếu đi qua ngã ba Nguyễn Tri Phương - Bùi Quốc Khánh, phường Chánh Nghĩa, Thủ Dầu Một đều muốn ngừng chân, nghiêng mình chào Dầu Đôi cổ mộc như một sự ngưỡng vọng chứng nhân từ thủa khai thiên kiến địa. Còn người dân nơi đây, không biết từ bao giờ, đã xem Dầu Đôi cổ mộc là trưởng bối trong gia đình mình. Thế nhưng, ít ai biết chắc Cây Dầu Đôi ấy có tự bao giờ. Vì sao thân dầu lại phân đôi như thế? Tôi hi vọng rằng khi đọc xong câu chuyện dưới đây, bạn sẽ biết được câu trả lời. Song, bạn nhớ nhé, đừng hỏi: cơ duyên nào tôi biết được câu chuyện ấy. Tại sao ư ? Tại vì:

Ngày ấy, trong câu chuyện về Núi Vọng phu, người xưa chỉ nhớ mà kể lại rằng, ở Đồng Đăng thuộc tỉnh Lạng Sơn, có người vợ họ Tô ôm con, chờ chồng, hóa thành Vọng phu thạch. Mà họ không biết rằng, Vọng phu thạch ấy là tạo tác của bà Âu Cơ. Bà muốn nhắc người chồng không được quên người vợ. Còn người vợ họ Tô kia đã không hóa đá, mà tha hương dong đường vào Nam.

Đọc tới đây, có lẽ bạn nghĩ rằng tôi đang lạc đề và dài dòng quá đáng. Hoặc giả là do trí tưởng tượng của tôi bịa ra như thế. Xin thưa, không đâu ạ! Bạn hãy bình tĩnh! Bạn sẽ thấy rõ đâu là sự thật. Sự thật là:

Người vợ khăn áo, dắt díu đứa con thơ dại ra đi. Người phụ nữ ấy cứ đi như thế về phía Nam. Qua trăm sông, ngàn núi, cho đến một ngày sức cùng lực kiệt, người mẹ cố rướn hơi thở cuối cùng đẩy bước chân non nớt của cậu con trai:

- Con hãy tiếp tục đi, đi, đi. Cha con đang chờ con trong đấy.

Chiều tà, cỏ cây giăng lối, núi sững rừng sâu, cậu bé ấy vừa đi vừa khóc cho đến khi sao trời sa xuống vui đùa với những giọt sương. Mệt nhoài, thả lưng trên phản đá, đứa trẻ đếm sao.

Mặt trời ló rạng, chàng thiếu niên nghe tiếng đò lơ. Trước mặt cậu là một vùng sông nước mênh mông, bình lặng. Xa xa, những đàn cò, đàn diệc không ngại người, mấp mỏn bên trong lạch ruộng. Trong vọng tưởng của mình, cậu biết đã đến nơi cần đến. Cha cậu chắc ở đâu đây. Nhưng làm sao mà tìm? Cậu chặt cây, làm bè thả theo con nước. Bè trôi tới đâu, bần bầu mở lối tới đó. Rồi, cậu gặp một người con gái ở tuổi trăng non, khăn rằn ôm tóc, áo lãnh bà ba, thả thuyền ba lá xuôi về rạch Thủ Ngữ. Tức thì cậu ới liền mấy tiếng, rồi bắt chuyện làm quen mà theo, thả bè đến bến. Bến ấy ở đâu? Xưa kia làm gì có bến!

Đúng vậy, đấy không là bến, chỉ là bờ sông dưới chân cù lao - đất của ông Hai Cả. Thế ông Hai Cả là ai? Không ai biết, cũng không ai hỏi. Chỉ biết rằng ông là lái thuốc nam, có nhiều tiền của. Ông lập bến để tiện làm ăn. Chà! Có thể ông Hai Cả là chồng của nàng Tô thị chăng? Ai mà biết được? Làm sao chắc được, bởi vì:

Ai cũng biết ông rất yêu thương gia đình. Khi vợ mất, ông chỉ ở vậy nuôi con. Mối mai nhiều chỗ tốt, ông từ chối cả. Chà, thế thì thật khó, chàng trai kia biết tìm cha mình ở đâu. Nhưng bạn yên tâm, lái buôn thường biết nhiều chuyện, lại giao thiệp rộng, có thể nhờ họ chỉ giúp. Chàng trai cũng biết vậy, nên xin vào tá túc tại tư dinh ông Hai Cả. Đến đây, câu chuyện mới bắt đầu. Chuyện là:

Lửa gần rơm lâu ngày cũng bén. Tôi nói thế, chắc bạn thừa biết chuyện gì đã xẩy ra. Chàng trai và cô gái bắt đầu yêu nhau. Họ yêu nhau say đắm. Say đến nổi chàng trai tưởng đã quên mất việc tìm cha; cô gái tưởng đã già thêm mấy tuổi. Trước tình cảnh ấy, ông Hai Cả vô cùng lo lắng:

- Biết làm sao đây! Chàng trai kia gốc gác thế nào, hương tích nơi nao. Ông thấy mình thật là sơ xót. Cả đời buôn bắc bán nam, vậy mà khi để cậu ta tá túc ở nhà mình, rồi nhận cậu ta làm con nuôi lại chẳng hề quan tâm thân thế. Cơ sự đến nước này, biết làm sao. Lẽ nào, oan nghiệt. Tại sao lại oan nghiệt chứ? Oan nghiệt là:

Như đã trình bày trên, ông Hai Cả không phải là người xứ này. Nghe đâu, ông là người phương Bắc. Phương Bắc cụ thể thế nào thì không ai biết. Chỉ biết phương Bắc quê ông có nhiều tích lạ. Lạ là kể ra không ai tin. Ví như chuyện nàng Tô thị ấy. Làm gì có chuyện anh em ruột lấy nhau lại không biết nhau. Làm gì có chuyện người hóa đá. Lạ không chỉ có thế! Lạ còn ở chỗ nhiều người nơi ấy bỏ đi mà không thấy trở về. Thi thoảng có người trở về lại không nhận mình là người nơi ấy. Căn nguyên không biết làm sao. Ôi thôi, làm sao phân giải. Nhưng chuyện của ông Hai Cả thì phân giải được. Được là vì:

Ông muốn kiến tạo một miền quê hương khác. Cái tham vọng của ông to lớn lắm. Vì cái tham vọng ấy, ông đã từ bỏ tổ nghiệp mà vào Nam lập làng xây ấp. Chẳng phải ông đã bỏ tất cả gia sản để xây dựng bến cù lao này sao! Chẳng phải trong rất nhiều năm, ông dốc công bỏ của thuê người đào kênh đắp rạch sao! Chẳng phải không những một nắng hai sương mà hơn nửa đời người, ông chịu sống trong cô quạnh cũng chỉ để tạo nên một nét rất riêng cho một vùng sông nước đó sao! Ôi thôi, công lao của ông nhiều không thể kể. Cái riêng mà ông đã cố lòng tạo mới phải nói rất nhiều. Thế thì, làm sao có thể hủy hoại trong tay chàng trai kia. Chàng trai ấy, rồi đây sẽ làm lu mờ những gì ông tạo tác. Con gái ông rồi thì như thuyền theo lái mà bỏ mất nếp gia phong. Và, chúng nó sẽ sinh con đẻ cái, cả vùng cù lao này lại trở thành nơi có đầy chuyện lạ. Không! Không thể chấp nhận được! Song cũng phải chấp nhận thôi. Phải chấp nhận bởi:

Ông thấy rằng mình không thể mãi chối bỏ mình được. Mà mình ở đây là nguồn cội của ông. Ông bỗng nhớ tổ tông, giòng giống. Ông nhớ quê hương da diết. Dường như sóng biển đang khúc khích bên tai ông. Dường như món nem chua đang khiêu khích đầu lưỡi ông. Ôi! Cái quá khứ xa xôi mà sao kề cận. Kề cận mà lại vời xa. Ông bỗng muốn tìm nguồn cội. Nhưng ông lại chợt hiểu rằng, đã từ lâu mảnh đất cù lao này đã là nguồn cội của ông. Tiếng khúc khích kia, sự khiêu khích nọ chỉ là ảo giác. Ông làm sao nhớ nổi quê hương mình ở đâu. Ông làm sao nhớ khi biết bao lớp ba đào lãng mạn. Thế thì việc chối bỏ kia cũng không là chuyện lớn. Chuyện lớn là, con gái ông đã phải lòng chàng trai. Ông không thể sống mãi để mà ngăn trở. Chúng nó yêu nhau mà! Thôi thì … dù sao chàng trai kia chỉ là con nuôi! Và sẽ không bao giờ trở thành chuyện lạ. Nhưng không! Tại sao không?

Chàng trai kia đã là con nuôi chứ! Ông thấy rằng, mối quan hệ trong nội hàm từ "nuôi" mới thú vị làm sao. Ông mãn nguyện, mỉm cười. Rồi đây, cháu ngoại sẽ thành cháu nội cả. Và chúng sẽ không phải băn khoăn về những câu chuyện lạ. Như thế, những di sản mà ông để lại chẳng phải còn nguyên vẹn cả sao. Song làm sao mà dễ dàng thế được! Trên đời này có gì là dễ dàng! Cuộc đời này có mấy khi là toàn vẹn. Bởi vì:

Con người vốn tò mò. Con người luôn muốn biết và thích biết những gì không nên biết. Ông Hai Cả cũng không là ngoài lệ. Ông kêu chàng trai lên và tra vấn. Trong tích tắc, ông chột dạ nhận ra, cái nguồn cội không là Nam mà cũng không là Bắc. Thân sinh chàng trai ấy đã chuyển hẳn vào Nam. Cậu ta vào Nam là để tìm nguồn cội. Ít năm nữa đây, cậu ta lại chẳng như ông giờ sao. Nhưng mà không thể. Chắc là chàng trai nói dối. Làm sao một đứa trẻ có thể vượt ngàn dặm xa xôi đến thế! Thật không tin nổi. Nhưng mà phải tin. Phải tin là ở:

Trong lúc nguy nan, tổ tiên giúp sức. Cậu bé ấy, chạy, chạy và chạy. Lá quấn chân, cành níu tay, cậu vùng vẫy. Hoảng loạn, hoảng loạn bủa vậy, cậu thét khóc. Sức cạn cùng, lực khô kiệt, lết kéo chân, cậu lê qua khe cạn. Nước mắt không còn, cơn đói dần qua, cỏ rừng cho thuốc, quả rừng cho cơm, suối rừng cho nước, cây rừng chở che. Qua năm, qua tháng, hết núi đến đồi, sông chảy về xuôi, đồng bằng trước mặt, thế là đến nơi. Đó là nơi nào? Ở trên tảng đá, trong buổi bình minh, tiếng hò gọi dậy. Hóa ra là vậy! Nhưng vẫn khó tin, người vợ thương chồng mà còn bỏ mạng. Vì sao bỏ mạng? Sự thể thế này, khó hiểu gì đâu:

Bạn thử nghĩ xem, một người vợ thương yêu chồng phải sống trong nỗi nhớ mong chồng thì sẽ ra sao! Nàng héo mòn, héo mỏi. Bạn thử hình dung xem, một người mẹ dắt díu đứa con bé bỏng bạt rừng băng rú thì sẽ thế nào! Nàng ốm gầy yếu gò. Bạn thử đoán xem, một người đàn bà mòn mỏi, gầy gò phải hứng đỡ rừng thiêng nước độc để chở che sinh thần cho đứa trẻ thì có hư hao! Nàng dành sinh giật tử. Nàng phải để cho con mình được sống. Nàng phải nguyện cho con mình gặp cha. Có gì là lạ. Lạ lắm chứ. Lạ trong tiếng vi vu tên họ. Họ gì?

Đó là họ Tô. Người đàn bà họ Tô là mẹ của chàng trai. Họ Tô nghe quen mà lạ. Họ Tô nghe gần mà xa. Họ Tô là họ của ông Hai Cả. Ông nhớ như in, ở quê ông, khi người con gái lấy chồng đều lấy họ chồng mà gọi. Có lẽ nào? Lẽ nào là sao? Là lẽ làm con:

Chàng trai từ biệt ông Hai Cả  trở ra Bắc tìm di hài của mẹ. Tại sao phải tìm? Chàng không muốn mình trong tổ ấm mà đấng sanh thành ở ngoài hoang vu cô lẻ. Chàng dứt tình ra đi. Cô gái cảm tấm lòng người yêu nên cùng tòng bước. Bạn thử đặt mình trong tình cảnh của ông Hai Cả xem sao? Hoặc là ông chia loan rẽ thúy. Hoặc là ông hối mã thúc xa. Không! Ông không nói gì. Ổng trở vô nhà không lời li biệt. Đêm đêm chong đèn, ông đối  bóng, bóng đối ông. Không! Không ai nói gì. Chỉ có bóng đèn xao động. Ông thấy những hòn vọng phu trải dài từ Nam về Bắc. Ông thấy chàng trai đẽo đá trên núi cao. Ông thấy cô gái nặn vôi trong khe núi. Còn kia nữa, đám trẻ con hát bài ca của chúng về miền đất mới. Miền đất mới nào?

Đó là cù lao bên dòng Thủ Ngữ. Bài hát có nhắc tên ông. Bài hát nhớ về người có công khai mương lập miệt, với tiếng nước gầm, với âm gió hú. Trong bài hát, bọn trẻ còn kể về mối tình của chàng trai cô gái. Mối tình như chiếc thuyền trăng. Bất chợt, gió hắt ngọn đèn, tiếng hát bay đi. Bay đi đâu? Bay đi tìm đôi trẻ. Để làm gì? Để:

Đôi trẻ quay trở về….

Bạn biết không, đến đây, chuyện kể Cây Dầu Đôi bỗng nhiên chững lại. Tôi cũng không hiểu cơ sự thế nào. Tôi gặng hỏi nhưng khoảng lặng cứ trôi đi, trôi đi. Rồi câu chuyện đến hồi kết thúc. Và sự tò mò được đáp trả như sau:

Ông Hai Cả đã qua đời. Cô gái thất thần bên mộ cha. Chàng trai chôn chân nơi bến vắng. Họ đi tìm kí ức. Kí ức gì? Kí ức của người cha. Họ lục tìm trong quá khứ. Quá khứ chỉ là những câu chuyện  kể. Chuyện kể rằng, trước khi tạ thế, người cha chỉ để lại bốn câu lục bát:

"Hai thân một cội tiên rồng

 Bắc Nam chung giọt máu hồng mẹ cha.

Cái con sum họp một nhà

Anh chồng em vợ đều là tình thân".

Xót thương người cha, hiểu rõ chuyện nhà, đôi trẻ ôm mộ cha mà khóc. Họ khóc cho mưa giông. Họ khóc cho bão giật. Họ khóc cho nước trào sóng nổi. Suốt ba ngày ba đêm như thế, cù lao nổi đất cồn vùi chôn tất cả. Có người nói, chàng trai và cô gái đã dời đi nơi khác. Có người lại nói, họ đã được đất mẹ dẫn về với cha. Sự thể thế nào, còn lao xao trong gió. Nhưng chắc một điều rằng, nơi đất cồn ấy mọc lên hai cây dầu nước. Hai cây dầu nước càng lớn càng xoắn lấy nhau cho đến khi hai thân chung thành một cội. Người dân thấy thế mới đặt là Cây Dầu Đôi. Ông già bà cả hiểu chuyện thì bảo đấy là cây đoàn kết. Trẻ nhỏ dại khờ thì xem đấy là cây tình bạn. Còn con trai con gái yêu nhau thì chỉ đấy là cây tình nhân.

Vậy đấy, Cây Dầu - ừ thì thế nào cũng được!

- Còn bạn nghĩ thế nào?

- Ừ thì - thế ấy!

BD, Một chiều nênh nao!

Lê Sỹ Đồng

Liên Hệ

Khoa Ngữ Văn - Trường Đại Học Thủ Dầu Một - Bình Dương

  • Địa Chỉ: Số 6 Trần Văn Ơn, P.Phú Hòa, TP. Thủ Dầu Một, Bình Dương
  • Số ĐT: 0650. 3844.670
  • Email: khoanguvan@tdmu.edu.vn
  • Website: www.khoanguvan.com.vn